Tin tức trong ngày
Gốc > Bài viết > Tin tức >

Si Ma Cai - bài ca đỉnh núi…

 Đứng ở thượng nguồn sông Chảy trên đất Si Ma Cai (tỉnh Lào Cai) huyền thoại, tôi chợt nhận ra rằng: có một cách để vẽ chân dung huyện lẻ, cụt, khuất nẻo Si Ma Cai - đó là đặt nó trong mối tương quan so sánh với thiên đường du lịch Sa Pa. Sa Pa và Si Ma Cai, tôi muốn ví "họ" như cặp nữ song sinh, cùng bánh đa bánh đúc, chơi ô ăn quan, đánh chắt đánh chuyền với nhau từ lúc miệng còn hơi sữa, rồi hai cô đều thảo hiền và rực rỡ với nhan sắc khuynh quốc đổ thành. Đến một ngày, Sa Pa may mắn hơn, vì nhà ở gần đường cái, nên một ngày chàng hoàng tử kiêu hùng nọ đi qua đã sớm rước nàng về làm… hoàng hậu. Si Ma Cai ở lại quê hương núi rừng, vẫn quyến rũ người ta chính bởi cái nét thậm hoang sơ "thơm tho ai biết/ ngát lừng ai hay" của mình. Cái bụng con ngựa thồ Chợt gặp ở Si Ma Cai, mỗi gương mặt trẻ thơ là một bài ca đỉnh núi... Cách đây hơn 100 năm, người Pháp đã phải lòng chốn tiểu thần tiên Sa Pa, và họ đã ngay lập tức quy hoạch, xây dựng ngành công nghiệp không khói (du lịch) ở nơi này. Với nguồn thu khổng lồ, với tốc độ phát triển chóng mặt, nay, Sa Pa trở thành thiên đường du lịch trên toàn cõi Việt Nam. Bản sắc, thiên nhiên ở Sa Pa bị khai thác đến cạn kiệt, cạn kiệt đến đáng sợ kiểu cô gái người Dao, người Mông xòe tay nói với khách Tây bồi "no money no photography" (không cho tao tiền, tao không cho chụp ảnh). Trong khi ấy, gần như giống hệt Sa Pa - cùng trong tỉnh Lao Cai, cũng ở giữa núi cao và mây mù, cũng ở độ cao hơn 1.500m so với mặt nước biển, cũng sa mộc già gân guốc phác dáng đại bàng núi của mình lên nền trời đặc quánh mây, buốt giá gió lạnh; cũng sặc sỡ sắc màu thổ cẩm (với nhiều nét văn hóa đặc sắc của nhiều cộng đồng người biên ải) - thì Si Ma Cai hầu như bị người làm du lịch lãng quên. Không phải sự lãng quên nào cũng đã hằn là chuyện buồn. Vẻ chân chất quê mùa đó, trong nỗi niềm tái ông thất mã lịch duyệt, ai ngờ, đã tạo cho Si Ma Cai thật sự là bài ca khoáng đạt cất lên trên những đỉnh núi cao, núi ủ trong mây mù, mây mù ôm cuốn lấy sông núi du mục bản làng nguyên sơ. Si Ma Cai... Cả trên bản đồ, cả ở ngoài thực địa tột đất Việt Nam, Si Ma Cai đúng nghĩa là một bài thơ biên tái diệu vợi. Vòi vọi thành quách đá chồ ra mép đường đi. Si Ma Cai vốn tên một cái xã chỏm chòe lưng núi của huyện xa xôi Bắc Hà, đến lúc tách ra thành huyện mới, Si Ma Cai trở thành cái huyện hiểm trở đệ nhất miền đất mang hình cánh bướm vỗ cánh giữa điệp trùng mây núi (tỉnh Lào Cai). Chỉ mới cách đây dăm năm (xin nhấn mạnh điều này), đường lên xã Si Ma Cai vẫn bé bằng bụng ngựa thồ, bà con hơn chục xã khuất nẻo với 82% dân số là người Mông muôn đời chênh vênh trên vách đá. Dễ đến hàng tấn thuốc nổ mới khảm được một khúc đường ôtô lủi trong mây đặc quánh, bò quằn quại trên đá chênh vênh hôm nay. Nhiều khi mây đặc đến mức, cánh tài xế phải cho phụ xe đi đằng trước, tay huơ huơ một manh áo trắng vừa khuấy loãng mây ra, vừa làm hoa tiêu dẫn đường thì xe mới dũi mây mà đi được. Chệch nửa vòng bánh xe là đi đời nhà ma! Tầm nhìn xa đúng là chỉ còn… một mét, đỉnh núi cao nhất của Si Ma Cai nằm tại xã Quan Thần Sán, khoảng 2.800 so với mực nước biển. Nghĩa là chỉ thấp hơn nóc nhà toàn xứ Đông Dương có một tẹo. Ủ trong mây quánh, núi trầm mặc thò ra những thớt đá khía khấc lan man, tôi cứ ngỡ, núi trông như vừng trán nhiều nếp nhăn u uẩn của ông bố rừng già, người Cha bao dung suốt đời kể về khúc tráng ca của đá. Si Ma Cai như vầng trán bằng đồng bằng đá còn nhiều ưu tư của đất Mẹ. Có nhiều cách lý giải cho cái tên Si Ma Cai. Có người chiết tự, Si Ma Cai có nghĩa là vùng đất của rồng ở. Thượng nguồn sông chảy trên đất Si Ma Cai là Pha Long, một xã sặc sỡ bản sắc của huyện Mường Khương – Lào Cai, nơi có cửa khẩu Lùng Cố Nhin nổi tiếng (sang Trung Quốc), nơi có ngã ba sông Xanh, sông Trắng gặp nhau. Pha Long, còn gọi là Phá Lùng, theo tiếng Quan hỏa, đó là con rồng hoa. Đánh vật với đá phiến, đá tảng dọc sông Chảy (bà mẹ sinh ra thủy điện đầu tiên của Việt Nam, thủy điện Thác Bà), chúng ta gặp vùng đất của các vị rồng ở. Không biết rồng có trú ngụ ở đó không, nhưng mây, núi, rừng nguyên sinh và những cộng đồng người vùng biên ải thương mến sẽ đưa gót lãng du của bạn tới một chốn bồng lai. Chốn ấy không hẳn là của riêng người trần tục nơi phố thị. Tôi đã từng đến và gắn bó với tả ngạn sông Chảy khúc thượng du ấy. Bí thư huyện ủy Si Ma Cai, ông Tráng Seo Hùng, người Mông gốc gác Sín Chéng, thì nhất nhất phải cho rằng: Si Ma Cai là lối đọc chệch (bà con vùng cao thì phát âm cái gì cũng chệch so với người dưới xuôi) của cái tên Sín Mà Cái (hay Sín Má Cải), Sín là mới, vùng đất mới (như các địa danh Sín Chải, Sín Cái, Sín Thầu… vẫn thường gặp ở rất nhiều miệt rừng) theo tiếng quan hoả; còn Mà Cái là cái chợ bán con ngựa. Về chiết tự thì điều này rất đúng. Cũng lại hợp lý ở chỗ: bao đời nay, đến tận thế kỷ hai mươi mốt khi loài người hè nhau đi du lịch cung quế Mặt Trăng với lại Sao Hoả bỏng lửa rồi, đường lên nhiều xã của Si Ma Cai vẫn chỉ bé bằng bụng ngựa. Ngựa quẩy hàng xuống chợ, bụng ngựa còn chịn mòn nhẵn hai vách đá cao. Nên cái chợ ngựa có vai trò cực lớn và tuần nào cũng nhóm họp ở Si Ma Cai nghìn đời trước cũng là hợp lý. Dưới Bắc Hà, huyện cũ, huyện vốn chứa cả đất Si Ma Cai nay trong bụng mình, đã làm du lịch Chợ ngựa Bắc Hà quảng bá trên internet, trên các tài liệu hướng dẫn du lịch rồi đó ư? (Có gì là lạ nữa ru?). Xưa, đường không có, phương tiện duy nhất là ngựa. Sử cũ còn chép: trước đây, chợ ngựa họp trong khu huyện lị Si Ma Cai hiện nay, ở cạnh khu rừng cấm. Sau, dân đông mà đất chật ngựa nhiều, chợ ngựa mới tách một nửa sang cái chợ Si Ma Cai sặc sỡ thổ cẩm hiện nay, gọi là chợ ngựa mới (Sín Mà Cái) – cũng như chính sách dãn dân mà nhà nước ta vẫn làm. Từ bấy, bà con có một phong tục rất hay: trước mỗi phiện chợ ngựa (như chợ xe máy, chợ ôtô dưới xuôi), bà con tổ chức đua ngựa, chọn ngựa, định giá ngựa. Trai vùng cao đi chọn ngựa, có lẽ phải kỹ càng như nhiều người đi chọn vợ. Họ "thử" ngựa bằng cách đua từ chợ mới sang chợ cũ. Lẽ ra, khi có Chợ Ngựa Mới rồi, thì con đường nối hai chợ (nay trải nhựa) phải được gọi là "Trường đua" tiếng quan hỏa thì mới đúng. Đèn cao áp Chợ Si Ma Cai giờ vẫn bạt ngàn ngựa. Nay, dẫu ngựa không còn là thứ phương tiện duy nhất để đến xã đến bản cheo leo đỉnh núi như trước kia nữa, nhưng nếu ai đã một lần lạc vào chợ ngựa Si Ma Cai, chợ ngựa trâu bò Cán Cấu (xã của huyện Si Ma Cai), thì mới thấy cái hương vị hoang sơ khoáng đạt nó dậy lên từ mỗi dáng ngựa. Người đến từ những đỉnh núi xa, họ uống vài chén rượu, chao nghiêng ngươờ leo núi (chợ họp trên dốc núi) như một cánh đại bàng xám. Lũ ngựa, trâu, bò trà trộn vào nhau, có những cặp súc vật hứng chí làm tình giữa chợ. Chợ ngựa, còn là cái chợ để ngựa gặp gỡ, giao hoan, tự tình nữa, chứ không chỉ là chợ để cho người vùng cao mua bán súc vật. Chợ tình cho người ta giải quyết những ẩn ức ái tình; cũng lại là chợ để cho đám ngựa đực ngựa cái chờ đợi cả một năm đằng đẵng rồi cõng ông chủ bà chủ đến. Ngựa ta cũng cứ là… hò hẹn, là ái tình “tháo khoán”, thậm chí thanh toán ân oán giang hồ giữa hai gã ngựa đực (tôi không phải là ngựa, song vẫn hồ đồ nghĩ thế). Nếu ai chưa từng thấy đôi ngựa trẻ trung tự tình, nghiêng ngó hôn nhau, cà cà đôi tai đôi môi vào nhau giữa chợ ngựa Si Ma Cai thì chưa bao giờ biết được sự quyến rũ của cái huyện duy nhất ở Việt Nam mang tên là Chợ Ngựa. Và, chàng đi bán ngựa, bán trâu nào cũng thản nhiên vẽ lên lưng con vật to nhất của bản mình một vài ký hiệu đánh dấu. Có khi lưng ngựa vẽ một khoanh tròn màu đỏ như tiết đọng, trong có tên của chủ bán ngựa “Ly Seo Châu”, ai mua thì cứ vào quán rượu thắng cố cho gọi đồng chí Châu ra ngã giá. Có con trâu mộng đang mệt mỏi “ế ẩm” (bán mãi không ai mua) ở góc chợ kia cũng đang nằm trệu trạo nhai sự ngẫm nghĩ của mình giữa dốc núi nhão nhào bùn đất sau mưa. Trên quả mông trâu viết chữ bằng vôi choe choét: “Vàng Chỉn Chúng”, chữ viết nguệch ngoạc. Có gã lái trâu miền xuôi lên, cứ nắm sừng con trâu có chữ “Páo” mà gân cổ gọi, ra điều tao có tiền mày ra đây mà bán. Gã không biết rằng, chú Páo đang nằm ôm đống cỏ khô ở cạnh quán chân giò lợn thui rơm uống với từng cái can màu vàng ướp ủ rượu ngô hạ thổ của Bản Phố. Ngay cạnh chợ Si Ma Cai là khu rừng cấm. Rừng rậm rì, mây phủ là là trên những tán cổ thụ. Mặc xe máy chạy rèo rèo ngay đường nhựa qua mép rừng, mặc cán bộ huyện ai cũng đồng loạt đeo thẻ cán bộ và ăn mặc chỉn chu toàn comple cà vạt như Tây. Trong mây, mấy em má đỏ hây nổi lửa nướng ngô nếp nương bán ở cửa rừng cấm. Bà cụ bán xôi bảy màu ướp tẩm nhuộm quết toàn bằng lá với rễ cây rừng với hương vị rất ngậy, rất lành và ngồ ngộ cả thị giác lẫn vị giác của thực khách. Có bà cụ chỉ ẵm một con mèo con xuống chợ, thế cũng thành một phiên. Mèo ngồi trên đầu gối bà cụ vẫn còn ngo ngoe kêu như nhớ sữa mẹ. Có cô em má đỏ hây hây, miệng cười lấp lóe răng vàng, tay cầm một bó dây thừng loằng ngoằng, mỗi sợi dây buộc cổ một con lợn con con. Chúng đang lồng lên đòi vào dũi rừng cấm. Em đi bán cả đàn lợn. Tôi chưa gặp ở Việt Nam mình một cái thị trấn huyện lỵ nào mà còn giữ được một trảng rừng cấm nguyên thủy đến thế (kể cả những địa danh nghe tên đã thấy diệu vợi như Mường Tè, Mèo Vạc). Cả năm cấm kỵ không cho ai xâm phạm rừng cấm, đến bẻ một cành khô hay hái vài cái nấm về nấu canh cũng tuyệt đối không được. Tết của người Mông sắp đến, bà con lại lục tục đem đồ tế lễ vào rừng, họ cúng thần rừng, thề trước thần rừng rằng chúng con sẽ giữ gìn bảo vệ bà mẹ rừng. Giữ rừng thành một tín ngưỡng nguyên thủy của bà con. Hồi mới tái lập huyện Si Ma Cai (năm 2000) - trước, từ năm 1925, người Pháp đã chia địa giới để Si Ma Cai trở thành một huyện riêng lẻ như hiện nay - lãnh đạo địa phương về "tiếp quản" xã Si Ma Cai đã nhận định ngay về khu rừng cấm: có thể dựa vào thứ tín ngưỡng cội nguồn với rừng (cụ thể là khu rừng cấm) để ngành kiểm lâm vận động bà con bảo vệ rừng. Mô hình rừng cấm và suy nghĩ giữ rừng như giữ gìn sự lễ phép với thần rừng được nhân rộng. Nên, kiểm lâm huyện rất song phẳng khi báo cáo với cấp trên (hoặc khách xa): tỷ lệ rừng che phủ trên huyện núi đá (chỉ 28% là đất nông nghiệp) này tuy thấp, song diện tích rừng (tương đối) nguyên sinh rất nhiều. Vì có tục cúng rừng, rừng cấm bản nào cũng có một dải, với lời thề giữ rừng như giữ mồ mả tổ tiên. Không có cách nào giữ rừng tốt như giữ bằng… tâm linh. Cạnh rừng cấm là ngôi đền hoang phế thờ ông Quan Công - Quan Vân Trường (nhân vật trong Tam quốc chí); rừng càng trở nên bí ẩn. Bây giờ, huyện còn nghèo, nhưng khách hỏi thăm đường xá, cán bộ huyện tự hào bảo: bác đi 80km từ TP Lào Cai, đi hết núi đá, gặp một cụm dân cư hiếm hoi trước mặt, ấy là huyện em. Đi qua khu rừng cấm, gặp con đường có đèn cao áp, ấy là khu huyện uỷ, uỷ ban. Huyện không có bất cứ cái nhà nghỉ khách sạn nào. Và, trên toàn huyện mênh mông núi thẳm rừng hoang, mênh mông thượng du sông Chảy huyền thoại này, chỉ có duy nhất món đèn cao áp ấy thôi. Quan khách khỏi cần phải hỏi thăm, mà hỏi cũng khó, vì huyện nhà vắng lắm cũng ít có ai mà chặn hỏi. Huyện không có dịch vụ xe ôm. Có nhiều địa danh tên là Lù Thì Chồ (đường là cái thang đá bắc lên đến trời) lắm. Huyện lỵ, dòng suối ngầm, lỗ hút nước Cái việc nhiều cán bộ vừa dày dạn chiến chinh lại vừa tráng chí xông pha được đem “đồn trú” trên cao nguyên 1.500m so với mực nước biển Si Ma Cai này lập một cái huyện mới toe năm 2000 nó rất là tráng chí. Rất là khai sơn phá thạch (xin lưu ý, cao nguyên cao nhất nước Việt Nam là Cao nguyên Đồng Văn, chỉ 1.700m so với mực nước biển). Ông Đỗ Đình Lương, Phó Chủ tịch UBND huyện là người ở vùng Trung du Phú Thọ lên Si Ma Cai đã 9 năm, ông bảo: tôi không thích nói sách vở, nhưng đúng là, khi mà mình biết nghĩ cho bà con mình, thì mọi cam khó không còn đáng ngán ngại gì nữa. Bà con lành lẽ, ăn đời ở kiếp với núi cao và mây mù này, có sao đâu. Mình lên đây, đói bà con cho ăn, khát bà con cho uống, uống say bà con đưa về. Cửa không cần đóng, xe vứt ngoài đường không sợ mất. Cả huyện có vài con nghiện thì toàn là lũ người dưới xuôi lên làm công trình, thỉnh thoảng họ lại bị cán bộ gọi lên răn mắng là "chúng mày khéo mà làm hư dân tao"! Một năm có bảy tháng giời mây mù như Sa Pa, trời se lạnh dưới những triền sa mộc ôn đới đẹp mê hồn, nếu anh lãng mạn một chút, anh sẽ thấy rằng, người Si Ma Cai quanh năm được đi ăn dưỡng. Từ những ngày dựng lều bạt dựng huyện mới, nhìn thấy thăm thẳm đá, não nùng những đá, có người đã buột miệng yêu cầu kiến nghị Bộ Tài nguyên Môi trường: nếu chỉ cấp sổ đỏ cho đất thôi, thì Si Ma Cai không bao giờ làm được sổ đỏ. Nơi này, phải gọi là sổ đỏ cấp cho diện tích đá. Công trình gì ở nơi này cũng làm trên đá. Thốc mình vào, đá bằng gian nhà lăn ra, ghè đá ra lấy mặt bằng, một căn nhà ba mặt là đá. Dưới nền nhà cũng đá. Cứ sẵn nền đá triệu triệu năm vững vàng ấy mà xây toà ngang dãy dọc lên trên, khỏi cần đào móng ép cọc làm gì. Giữa đá có người thở dài, có cán bộ huyện quắc mắt: "Anh hy sinh một tí chuyện xa nhà, ở lều bạt ăn mì tôm. Nhưng anh đem lại niềm vui cho hàng nghìn hàng vạn bà con mình. Anh phải thấy điều đó là hạnh phúc chứ". Cũng hiếm có huyện nào mà cán bộ "xuất môn như kiến đại tân" (ra khỏi nhà đi làm - trừ khi đi vào bản xa để ba cùng với bà con – ăn vận phải chỉnh tề như bắt đầu một buổi tiếp kiến quan trọng) với thẻ cán bộ treo trước ngực một cách trịnh trọng như Si Ma Cai. Cán bộ huyện bảo: nơi này còn hoang sơ, mình phải ăn mặc tử tế để bà con nhìn vào. Mình mà lôi thôi lếch thếch, thì bà con đi ngựa, ở nhà chình đất, ăn mèn mén kia họ biết trông gương vào ai? Mặt đất vốn không có đường, đường là thứ mà người ta đi mãi thì nó hình thành thôi. Không có đường thì ta mở đường. “Cả huyện không có một tẹo nhà nghỉ, khách sạn cũng chưa chết ai. Không có đường thì dân mình khổ lắm” - một cán bộ huyện tâm huyết. Thế là mùa khô đến, người người, nhà nhà, bản bản đi mở đường. Đường phá đá lớn của Chính phủ cho tiền cứ lùi lũi tiến vào thượng huyện. Trẻ em đói quá, nghèo quá, đi học cũng nằm lả trên ghế. Nhà các cháu xa đến mức, học xong, về ăn miếng cơm, nếu tiếp tục đến trường thì các cháu lội bộ đến lớp, có khi ông mặt trời đã đi ngủ. Núi quá cao, bàn chân lội bộ của các cháu thì nhỏ bé. Hôm nào trời mưa, vách núi trơn, 80% học sinh đành phải ngửa cổ trông trời mà đứt buổi học. Ông Chủ tịch xã, và ông hiệu trưởng trường Thào Chư Phìn xa xôi cứ trăn trở mãi rồi chợt mới nghĩ ra mô hình bán trú dân nuôi. Nghĩa là cho học sinh ở lại trường, bố mẹ các cháu góp gạo, thầy cô và các cháu nấu cơm cho các cháu ăn. Ăn no rồi tự học trong sự “quản thúc” của thầy cô. Ai ngờ điểm sáng giáo dục mang tầm quốc gia lại ra đời từ xó núi Thào Chư Phìn ấy. Mô hình bán trú dan nuôi ở Thào Chư Phìn, Sín Chéng, Bản Mế, Quan Thần Sán… giờ là niềm tự hào của giáo dục Lào Cai. Đường hay trường, nếu muốn sáng lên, nhất thiết phải nảy ra từ tâm huyết, từ phút cay lòng của người cán bộ biết nghĩ cho bà con mình như thế! Có một câu chuyện rất lạ ở trung tâm Si Ma Cai thế này: khi xắm nắm lên gây dựng cơ đồ lập huyện mới ven khu rừng cấm nguyên sơ của xã Si Ma Cai, ông Sương (sau này là Bí thư huyện ủy Si Ma Cai, giờ là Tổng Biên tập Báo Lào Cai) và ông Lương (giờ là Phó Chủ tịch UBND huyện) đã rất trăn trở về nguồn nước sạch cấp cho cả một cái huyện mới. Thì sống trên đỉnh đá tai mèo rợn ngợp thế, nỗi lo muôn thuở của Mèo Vạc, Đồng Văn vẫn là nước sạch. Bài toán đang bế tắc với Si Ma Cai thì một người già ở khu Phố cũ (trước là phố Hoa kiều) hiến kế: dưới thung lũng kia có một con suối ngầm. Không biết đỉnh đá ngất trời không bao giờ nhìn thấy chóp (vì đỉnh của nó ủ trong mây) kia nó đớp nước từ con sông nào ở xứ sở nào, nó ngậm nước trong bụng núi bao lâu bao xa, chỉ biết rằng, khi nhò ra kè đá ngoài thung lũng nó chảy rất đều, rất êm, chảy từ đời này qua đời khác. Nước ấm và lành Mắt ông Lương sáng rực, đó là một dòng sông ngầm trên địa hình chất ngất, sắc nhọn Katster – ông đã đọc điều này từ hồi còn ngồi trên ghế nhà trường vùng Cẩm Khê, Phú Thọ. Sông ngầm đã nhò ra, nhất định quanh đây phải có lỗ hút nước, hút nước biến mất vĩnh viễn trong lòng đất, lòng núi (để nó lại nhò ra ở một nơi nào khác!) - đó có thể là lỗ nước thải tạm thời và kinh điển của thị trấn (rồi thị xã, thành phố sau này?) Si Ma Cai. Thế là một “nhà máy nước” ra đời dưới thung lũng sâu, nước được bơm lên, đem đi xét nghiệm chất vôi của nó hơi nhiều (chảy ngầm trong đá vôi mà lị), không độc lắm, nhưng cần phải “khử”. Khử xong, bơm vào đường ông, cấp cho cả thị trấn ăn thả phanh. Nước thải, đặc biệt là hệ thống nước trời trong mùa mưa của toàn huyện lập trên nền đá phiến triệu triệu năm tuổi được vun vén cho chui vào một cái lỗ hút nước kỳ lạ do trời đất sinh ra. Anh em cán bộ thở phào: “Đúng là người tính không thể bằng… trời tính!”. Nước trời lại trả về cho trời đất. Một nhà máy cấp và thải nước vĩnh viễn không bao giờ có sự cố, vĩnh viễn không sợ ai phá đường ống hay ai thải cái gì độc hại từ phía đầu nguồn (vì sông cấp nước chảy luồn lủi trong núi). Cùng với rừng cấm, lỗ hút nước và dòng sông ngầm đột ngột lộ thiên đều là những đặc sản mà tôi nghĩ, thị trấn Si Ma Cai nên đưa vào làm… tuyến du lịch về rừng. Thế là câu chuyện bánh đa bánh đúc của hai người đẹp cùng đánh chắt đánh chuyền Sa Pa – Si Ma Cai đã kết thúc có hậu. Dù người đi trước, người đi sau, nhưng rồi đường nhựa cũng vào tới nơi, và chàng hoàng tử hào hoa cũng đã đến đón cả hai nàng đem lên sắc dậy hương. Si Ma Cai - thành một bài ca đỉnh núi, một nàng công chúa ngủ trong rừng vừa bừng thức (khi cô bạn cùng xóm đã trở thành hoàng hậu từ 100 năm trước - thiên đường du lịch Sa Pa). Vẻ nồng say, hoang sơ, sặc sỡ, tựa lưng vào rừng cấm, uống nước dòng sông ngầm vắt mình qua bí ẩn đời sông kiếp đá của Si Ma Cai đang dần trở nên quyến rũ. Dần dà, người ta nhận ra tiềm năng của Si Ma Cai chính lại là những con đường chỉ bằng bụng ngựa, những bảo tàng hoang sơ, đậm sắc, ngỡ như chỉ còn trong cổ tích ấy. Và, trong niềm vui mở đường đem ánh sáng mới tới thượng nguồn sông Chảy hôm nay, tôi còn thấy lấp lánh niềm vui của những người cán bộ âm thầm mê mải và kín đáo tự hào, lòng nhủ với lòng: mình là người đi tiên phong phá đá mở đường. Vùng đất lành lẽ, nhưng con người thô mộc ở sau rất nhiều dãy núi cao kia đã thốc thổi thêm cả ngọn lửa nồng say nào đó, cộng vào với tráng chí của những người "mang gươm đi mở cõi" (lập huyện mới) ấy. Vinh quang thay là người lính đi đầu. Tổ quốc ta, trong công cuộc đưa miền núi tiến kịp miền xuôi không đơn giản hôm nay, còn cần nhiều lắm những tấm lòng biết nghĩ cho đồng bào mình thật nhiều và thật ấm như thế. Lời tâm sự của ông Lương, trong căn bếp nhỏ, ngang bữa rượu đêm biên thùy, cứ ám ảnh tôi mãi: thì mình xa vợ con một tí, mình đem lại niềm vui cho cả nghìn cả vạn bà con mình - thế phải gọi là hạnh phúc chứ, sao chú lại nói là hy sinh…
Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Hùng Phong @ 12:42 04/04/2010
Số lượt xem: 207
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến